Sign In

Giới thiệu một số chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước được thông qua tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV

14:09 20/08/2026

Chọn cỡ chữ A a    

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV họp từ ngày 20/7 đến ngày 24/7/2026 tại Thủ đô Hà Nội. Hội nghị đã thông qua 05 Nghị quyết, 02 Kết luận và 02 Quy định như sau:

(1) Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam;

(2) Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh;

(3) Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 28/7/2026 về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển;

(4) Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 28/7/2026 về Chiến lược An ninh quốc gia;

(5) Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 28/7/2026 về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan;

(6) Kết luận số 75-KL/TW, ngày 28/7/2026 về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới;

(7) Kết luận số 76-KL/TW, ngày 28/7/2026 về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp;

(8) Quy định số 208-QĐ/TW, ngày 26/7/2026 về thi hành Điều lệ Đảng (sửa đổi, bổ sung Quy định số 20-QĐ/TW, ngày 08/4/2026);

(9) Quy định số 207-QĐ/TW, ngày 26/07/2026 về những điều đảng viên không được làm (thay thế Quy định 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021).

Ban Thanh tra trân trọng giới thiệu một số nội dung cơ bản của Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 28/7/2026 về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển và Kết luận số 76-KL/TW, ngày 28/7/2026 về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp:

1. Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 28/7/2026 về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển (Nghị quyết số 18)

Nghị quyết số 18 xác định mục tiêu đến năm 2030 “cơ bản tạo lập được nền tảng của xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển” với 6 chỉ tiêu cụ thể:

(1) Cơ bản hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; ban hành Bộ tiêu chí về xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển và các Bộ chỉ số về quản trị xã hội hiện đại, an ninh con người, an sinh xã hội, chất lượng sống, hạnh phúc xã hội và niềm tin xã hội. Văn hoá thượng tôn pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử trong xã hội; xây dựng và thực hành văn hoá Đảng, văn hoá công vụ trong 100% cán bộ, đảng viên.

(2) Kéo giảm bền vững tội phạm, vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội, tai nạn và các rủi ro xã hội; phấn đấu hằng năm giảm 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội; đến năm 2030 đạt ít nhất 50% số địa bàn cấp xã và 20% địa bàn cấp tỉnh không có ma túy.

(3) Hoàn thành xây dựng Chính phủ số, hình thành Chính phủ thông minh; Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và 50 nước dẫn đầu thế giới về Chính phủ điện tử và Chính phủ số và thuộc nhóm 15 nước dẫn đầu thế giới về Chỉ số an ninh mạng toàn cầu (GCI). Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) đạt giá trị trung bình cả nước trên 88%.

(4) Bảo đảm đủ lớp, đủ trường, đủ giáo viên, đủ sách giáo khoa, thiết bị dạy học tối thiểu đáp ứng yêu cầu học tập của mọi lứa tuổi; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành chương trình trung học phổ thông và tương đương; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%; 100% người dân được khám sức khỏe hằng năm, hướng tới cơ bản miễn viện phí toàn dân; tỉ lệ thất nghiệp chung dưới 3%, tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4%; đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội; 90% thiết chế văn hoá cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả; trên 95% hộ gia đình là "Gia đình văn hoá", trên 90% tổ dân phố, thôn đạt danh hiệu văn hoá, bảo đảm thực chất.

(5) Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm. Chỉ số chênh lệch thu nhập (GINI) dưới mức 0,38; tỉ lệ đô thị hoá cả nước đạt trên 50%. Lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%; tỉ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường đạt khoảng 98 - 100%. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất.

(6) Các khu vực đô thị, nông thôn, nhất là các đô thị lớn và địa bàn trọng điểm cơ bản khắc phục được tình trạng mất trật tự, mỹ quan đô thị, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và ngập úng. Hình thành các địa phương kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển.

Tầm nhìn đến năm 2045 “Xây dựng thành công xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Pháp luật, đạo đức, văn hóa, trách nhiệm công dân, ý thức cộng đồng trở thành nền tảng điều chỉnh hành vi của mọi người dân; “trật tự tự thân” của xã hội được hình thành vững chắc. An ninh con người được bảo đảm toàn diện; an sinh xã hội bao trùm, đa tầng, hiện đại, bền vững. Mọi người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và được thụ hưởng công bằng mọi thành quả phát triển. Chất lượng sống, chỉ số hạnh phúc, chỉ số phát triển con người và trình độ quản trị xã hội thuộc nhóm các quốc gia tiên tiến trên thế giới”.

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Nghị quyết số 18 đã đề ra 09 nhiệm vụ và giải pháp sau đây:

1. Nâng cao nhận thức, thống nhất tư duy và hành động về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.

2. Xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và kỷ cương xã hội.

3. Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới là chủ thể, nguồn lực và động lực của xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.

4. Xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người và chuẩn mực xã hội Việt Nam thời kỳ mới.

5. Đột phá xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo phát triển từ cơ sở.

6. Đột phá về bảo đảm an ninh con người toàn diện và xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh.

7. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của nhân dân.

8. Tăng cường hội nhập quốc tế và huy động nguồn lực cho xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.

9. Xác định 3 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đột phá để tập trung thực hiện, tạo nền tảng, động lực và lan tỏa gồm: (1) Xây dựng văn hoá thượng tôn pháp luật, văn hoá Đảng, văn hoá công vụ và kỷ cương xã hội. (2) Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới. (3) Xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo phát triển từ cơ sở.

2. Kết luận số 76-KL/TW, ngày 28/7/2026 về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp

Kết luận số 76-KL/TW được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành ngày 28/7/2026 trên cơ sở đánh giá toàn diện kết quả sau một năm triển khai mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Qua thực tiễn vận hành, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định đây là chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, là quyết sách chiến lược có ý nghĩa quan trọng trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tổ chức quyền lực nhà nước và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại.

Kết luận số 76 đã xác định trong giai đoạn tới, cần tiếp tục "tinh chỉnh" để hoàn thiện tổ chức bộ máy bên trong; đồng thời chuyển mạnh trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành, năng lực quản trị quốc gia, năng lực kiến tạo phát triển và hiệu quả phục vụ Nhân dân; bảo đảm hệ thống chính trị đủ năng lực tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm như sau:

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội. Hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, liên thông từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp xã; bảo đảm "Trung ương kiến tạo, tỉnh điều phối, xã thực thi". Phát huy cao nhất tính chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền cơ sở; kiên quyết khắc phục triệt để tình trạng thụ động, ỷ lại, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và kiểm soát quyền lực. Trọng tâm là tháo gỡ các điểm nghẽn, mâu thuẫn, chồng chéo, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn vận hành ở cơ sở. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn liền với phân bổ nguồn lực; kiên quyết chấm dứt tình trạng giao nhiệm vụ nhưng không bảo đảm điều kiện thực hiện. Thẩm quyền được giao phải gắn chặt với trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm soát quyền lực.

Thứ ba, hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và cơ chế vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp. Theo đó, cấp tỉnh giữ vai trò trung tâm trong quản trị, tổ chức không gian phát triển, liên kết vùng, phân bổ nguồn lực và điều phối thực thi. Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công, triển khai các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với người dân, xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh từ cơ sở, trực tiếp phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Tiếp tục rà soát, sắp xếp, tinh gọn mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập, nhất là trong giáo dục, y tế, văn hóa và các dịch vụ công cơ bản, gắn việc tinh giản biên chế với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của mô hình mới. Thực hiện cải cách tiền lương gắn kết chặt chẽ với lộ trình tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế và vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Hoàn thiện khung năng lực, tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm; bố trí đúng người, đúng việc, đúng sở trường. Đổi mới công tác đánh giá cán bộ bằng sản phẩm cụ thể, kết quả đầu ra, tiến độ xử lý công việc và sự tín nhiệm của Nhân dân; thực hiện nghiêm nguyên tắc "có vào, có ra, có lên, có xuống".

Thể chế hóa cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; phân định rõ sai sót do thử nghiệm, đổi mới với sai phạm do động cơ cá nhân, vụ lợi. Đồng thời kiên quyết chấn chỉnh bệnh sợ trách nhiệm, né tránh, ỷ lại, đùn đẩy, làm việc cầm chừng; kịp thời thay thế cán bộ năng lực hạn chế, uy tín giảm sút, không đáp ứng yêu cầu.

Thứ năm, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá và phát huy trách nhiệm người đứng đầu. Thực hiện nghiêm túc, triệt để nguyên tắc "quyền hạn giao đến đâu, trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm soát tới đó" Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên, từ sớm, từ xa; kết hợp kiểm tra của cấp trên, giám sát chéo giữa các cơ quan cùng cấp và giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của Nhân dân.

Thứ sáu, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân. Chuyển chức năng, nhiệm vụ tham mưu về công tác dân vận từ Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong tham gia xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, phục vụ; củng cố đồng thuận xã hội, niềm tin của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ bảy, xử lý hiệu quả tài sản công, hồ sơ lưu trữ và bảo đảm nguồn lực cho cơ sở.

Thứ tám, lấy chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo làm phương thức đột phá trong vận hành mô hình mới. 

Ban Thanh tra tổng hợp, biên soạn từ https://tulieuvankien.dangcongsan.vn./.

Alternate Text

Bình luận

Danh sách bình luận

Số lượng ý kiến bài viết: 0

Hội thảo khoa học “Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Nhà chiến lược quân sự kiệt xuất của thế kỷ XX”

15:44 20/08/2026

Sáng ngày 20/8/2026, tại Hà Nội, nhân dịp kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 – 25/8/2026), Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Nhà chiến lược quân sự kiệt xuất của thế kỷ XX”. PGS,TS Lý Việt Quang, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng chủ trì Hội thảo.

Thông báo số 134-TB/VPTW ngày 02/08/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị

15:26 20/08/2026

Thông báo số 134-TB/VPTW ngày 02/08/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tại phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị

Quyết định số 23-QĐ/BCĐ ngày 17/8/2026 của Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng về việc ban hành Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, phiên bản 1.0

15:25 20/08/2026

Quyết định số 23-QĐ/BCĐ ngày 17/8/2026 của Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng về việc ban hành Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, phiên bản 1.0

Quy định 215-QĐ/TW ngày 18/8/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 230-QĐ/TW, ngày 10/01/2025 của Bộ Chính trị

14:51 20/08/2026

Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu toàn văn Quy định số 215-QĐ/TW ngày 18/8/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 230-QĐ/TW, ngày 10/01/2025 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị thường kỳ tháng 8 năm 2026

14:24 20/08/2026

Chiều ngày 19/8/2026, Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị thường kỳ tháng 8 năm 2026, nhiệm kỳ 2025-2030. Đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện chủ trì Hội nghị.

Thống kê lượt truy cập

Lượt truy cập:

Khách online: