Nghị định gồm 06 chương, 32 điều, quy định về xây dựng, thu thập, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC); tạo lập, cập nhật, sử dụng, lưu trữ hồ sơ điện tử của CBCCVC trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương đến xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là cấp xã).
1.Cơ sở dữ liệu quốc gia về CBCCVC là cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia, chứa dữ liệu phản ánh các thông tin chung nhất về CBCCVC trong công tác quản lý của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; được lưu trữ tập trung, chia sẻ, khai thác sử dụng trên phạm vi toàn quốc. Cơ sở dữ liệu quốc gia về CBCCVC được kết nối, đồng bộ với các hệ thống thông tin quản lý CBCCVC để thu thập, cập nhật và thống nhất dữ liệu.
2.Dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về CBCCVC được quy định trong Nghị định gồm 10 loại dữ liệu như sau:
(1) Dữ liệu phản ánh thông tin cơ bản về bản thân, bao gồm các thông tin để xác định danh tính, thành phần xuất thân, định danh CBCCVC;
(2) Dữ liệu phản ánh thông tin quan hệ gia đình;
(3) Dữ liệu phản ánh thông tin lịch sử bản thân;
(4) Dữ liệu phản ánh thông tin về tuyển dụng, bầu cử, bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, luân chuyển, biệt phái, thôi việc, nghỉ hưu;
(5) Dữ liệu phản ánh thông tin về học vấn, trình độ chuyên môn, quá trình đào tạo; quá trình bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, bao gồm lý luận chính trị; quốc phòng, an ninh; quản lý nhà nước, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ;
(6) Dữ liệu phản ánh thông tin về cơ quan, đơn vị làm việc; vị trí việc làm; chức danh, chức vụ; tiền lương cơ bản, phụ cấp lương; đánh giá, xếp loại chất lượng; thi đua, khen thưởng; kỷ luật;
(7) Dữ liệu phản ánh thông tin về việc tham gia tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
(8) Dữ liệu phản ánh thông tin về việc đã từng tham gia lực lượng vũ trang;
(9) Dữ liệu phản ánh thông tin về tài sản, thu nhập;
(10) Dữ liệu phản ánh thông tin về sức khỏe.
3.Thống nhất sử dụng số định danh cá nhân làm mã định danh hồ sơ điện tử CBCCVC
Hồ sơ điện tử CBCCVC bao gồm: a) Sơ yếu lý lịch điện tử; b) Các thành phần hồ sơ khác được tạo lập từ dữ liệu CBCCVC.
Mỗi CBCCVC có một hồ sơ điện tử được gắn mã định danh duy nhất (mã định danh hồ sơ điện tử) phục vụ công tác quản lý, tra cứu trên môi trường điện tử. Thống nhất sử dụng số định danh cá nhân làm mã định danh hồ sơ điện tử CBCCVC.
Thời hạn lưu trữ hồ sơ điện tử thực hiện theo quy định của pháp luật về văn thư, lưu trữ; pháp luật về CBCCVC và pháp luật về dữ liệu, bảo đảm duy trì tính toàn vẹn, tính sẵn sàng và khả năng truy cập của dữ liệu.
4. Trách nhiệm tạo lập và cập nhật hồ sơ điện tử
Cơ quan quản lý CBCCVC hoặc cơ quan được phân cấp, ủy quyền thực hiện tạo lập hồ sơ điện tử CBCCVC. Việc tạo lập được thực hiện trên hệ thống thông tin quản lý CBCCVC.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ban hành quyết định bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, chỉ định, tuyển dụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải hoàn thành tạo lập hồ sơ điện tử.
Trường hợp quy trình bổ nhiệm, tiếp nhận, tuyển dụng CBCCVC thực hiện trên hệ thống thông tin quản lý CBCCVC thì hồ sơ điện tử của CBCCVC được tạo lập đồng thời cùng với việc ban hành quyết định bổ nhiệm, tiếp nhận, tuyển dụng.
CBCCVC có trách nhiệm thường xuyên cập nhật các thông tin, dữ liệu của cá nhân khi có phát sinh thay đổi vào hồ sơ điện tử và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác đối với thông tin, dữ liệu đã cập nhật.
Cơ quan sử dụng CBCCVC có trách nhiệm thường xuyên cập nhật các thông tin, dữ liệu của CBCCVC phát sinh từ nghiệp vụ quản lý CBCCVC vào hồ sơ điện tử và đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về CBCCVC trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ khi có thông tin phát sinh.
5. Hồ sơ điện tử của CBCCVC được sử dụng thay thế hồ sơ giấy
Thành phần hồ sơ điện tử trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về CBCCVC được sử dụng thay thế các thành phần hồ sơ giấy trong công tác quản lý CBCCVC theo quy định của pháp luật và cấp có thẩm quyền.
Trường hợp do yêu cầu nghiệp vụ phải sử dụng hồ sơ giấy, cơ quan quản lý hoặc cơ quan, đơn vị sử dụng CBCCVC khai thác hồ sơ điện tử của CBCCVC trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về CBCCVC, chuyển đổi sang bản giấy để sử dụng. Việc chuyển đổi sang bản giấy từ hồ sơ điện tử thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. CBCCVC không phải chuẩn bị lại các thành phần hồ sơ đã có trong hồ sơ điện tử.
Cơ quan quản lý và sử dụng CBCCVC không được yêu cầu CBCCVC cung cấp lại thông tin, thành phần hồ sơ đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về CBCCVC, trừ trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Trường hợp phát hiện thông tin, dữ liệu có sai lệch, CBCCVC, cơ quan quản lý và sử dụng CBCCVC có trách nhiệm cập nhật thông tin, dữ liệu thuộc phạm vi thẩm quyền của mình lên hồ sơ điện tử của CBCCVC.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chỉ được truy cập, xem hồ sơ điện tử của CBCCVC theo quy định của pháp luật khi được người đó đồng ý bằng thông điệp điện tử. CBCCVC có quyền rút lại ý kiến đã đồng ý. Trường hợp phục vụ công tác cán bộ, cơ quan quản lý hoặc cơ quan sử dụng CBCCVC được phép truy cập, xem hồ sơ điện tử CBCCVC trong phạm vi thẩm quyền và nhiệm vụ được giao và có nghĩa vụ bảo mật thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 01-7-2026.
Toàn văn Nghị định xem tại:
https://hcma.vn/toan-van-nghi-dinh-so-272026ndcp-cua-chinh-phu-quy-dinh-ve-co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-20658.htm