Một số điểm mới về tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ theo Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT

19:16 12/08/2026

Ngày 30/6/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học (Quy chế). Quy chế này tích hợp và thay thế các quy chế: Quy chế đào tạo thạc sĩ theo Thông tư số 23/2021/TT-BGDĐT và Quy chế đào tạo tiến sĩ theo Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT. Quy chế gồm có 5 Chương, 34 điều quy định về tuyển sinh, tổ chức đào tạo sau đại học trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.

Ban Thanh tra Học viện giới thiệu một số điểm mới quan trọng trong công tác tuyển sinh, đào tạo trình độ tiến sĩ theo Quy chế như sau:

1. Đối tượng và yêu cầu tuyển sinh

Quy chế không quy định điều kiện cụ thể mà chỉ yêu cầu dự tuyển trình độ tiến sĩ đáp ứng yêu cầu đầu vào chương trình đào tạo do cơ sở đào tạo quy định, và không thấp hơn quy định tại chuẩn chương trình đào tạo ở trình độ, lĩnh vực, ngành tương ứng (Điều 14).

2. Phương thức và thời gian đào tạo

Quy chế quy định rõ hơn phương thức đào tạo trình độ tiến sĩ theo hình thức đào tạo chính quy và thời gian đào tạo.

- Nghiên cứu sinh chịu sự quản lý, giám sát và đánh giá của cơ sở đào tạo trong suốt quá trình đào tạo, tham gia hoạt động chuyên môn, giảng dạy, nghiên cứu khoa học theo các cách thức sau:

+ Học tập, nghiên cứu toàn thời gian tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch học tập toàn khóa do cơ sở đào tạo ban hành, tham gia các hoạt động chuyên môn của cơ sở đào tạo bao gồm trợ giảng, hướng dẫn thực hành, thực tập, phòng thí nghiệm; không làm việc toàn thời gian tại cơ quan, tổ chức khác trong thời gian học tập.

+ Học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo bảo đảm đủ thời gian theo kế hoạch học tập toàn khóa do cơ sở đào tạo ban hành trong đó đăng ký đủ 30 tín chỉ trong một năm học.

- Thời gian đào tạo tiến sĩ được tính từ thời điểm quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực đến thời điểm người học nộp luận án cho cơ sở đào tạo trước khi thực hiện quy trình phản biện độc lập.

+ Thời gian đào tạo tối thiểu để hoàn thành chương trình đào tạo không ít hơn hai phần ba (2/3) và thời gian đào tạo tối đa không vượt quá 2,5 lần thời gian đào tạo chuẩn của chương trình đào tạo;

+ Thời gian đào tạo toàn khóa đối với hình thức đào tạo thường xuyên phải dài hơn từ một phần tư (1/4) đến một phần hai (1/2) so với thời gian đào tạo chuẩn của cùng chương trình đào tạo tổ chức đào tạo theo hình thức đào tạo chính quy;

+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ quốc gia, quốc tế của người học theo quyết định của Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang bộ từ ba (03) tháng trở lên không tính vào thời gian đào tạo của người học.

- Người học chưa tốt nghiệp khi hết thời gian đào tạo tối đa của chương trình đào tạo, kể cả trường hợp đã bị buộc thôi học, được đăng ký dự tuyển lại…

3. Công nhận kết quả học tập và chuyển đổi tín chỉ

- Người học được xem xét công nhận kết quả học tập và chuyển đổi tín chỉ đối với các học phần được thực hiện tại cơ sở đào tạo được phép đào tạo trình độ, lĩnh vực tương ứng và đáp ứng yêu cầu về khối lượng học tập, nội dung học tập và chuẩn đầu ra của học phần tương ứng.

- Tổng khối lượng học tập được công nhận, chuyển đổi không vượt quá 40% tổng khối lượng học tập của chương trình đào tạo mà người học đang theo học, trừ chương trình đào tạo tích hợp được quy định tại khoản 5, Điều 4, Quy chế.

- Người học được đăng ký học trước một số học phần của chương trình đào tạo ở trình độ tiến sĩ với tổng khối lượng học tập được công nhận và chuyển đổi không vượt quá 25% tổng khối lượng học tập của chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ khi đáp ứng yêu cầu (khoản 4, Điều 4, Quy chế).

4. Tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy trình độ tiến sỹ

- Giảng viên chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư phải có ít nhất 02 năm kinh nghiệm giảng dạy hoặc tham gia nghiên cứu khoa học kể từ khi được cấp bằng tiến sĩ và có kết quả nghiên cứu khoa học phù hợp với lĩnh vực chuyên môn giảng dạy theo quy định của cơ sở đào tạo, có công trình công bố khoa học hằng năm.

- Ngoài các đối tượng quy định tại khoản 1, Điều 16, Quy chế, cơ sở đào tạo được mời các giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ đang công tác tại cơ sở giáo dục đại học nước ngoài, các chuyên gia, nhà khoa học thuộc Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và  người Việt Nam ở nước ngoài do Chính phủ quy định được tham gia giảng dạy trình độ tiến sĩ theo quy định của cơ sở đào tạo và quy định của pháp luật có liên quan.

5. Người hướng dẫn

- Người hướng dẫn phải đáp ứng tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ theo quy định tại Điều 16, Quy chế (bao gồm cả đối tượng thuộc khoản 3, Điều 16) và có năng lực hướng dẫn nghiên cứu, có công bố khoa học thuộc danh mục Web of Science (WoS) hoặc Scopus hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế hoặc giải pháp hữu ích phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu trong 05 năm tính đến thời điểm hướng dẫn nghiên cứu sinh, đồng thời đáp ứng các yêu cầu theo chuẩn chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ của ngành, lĩnh vực đào tạo.

- Trường hợp người hướng dẫn không có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư phải đáp ứng quy định tại khoản 2, Điều 16 và khoản 1, Điều 17, Quy chế.

6. Tổ chức đào tạo và đánh giá kết quả học tập

Quy chế quy định rõ hơn về phương thức đào tạo và đánh giá kết quả học tập của nghiên cứu sinh:

- Cơ sở đào tạo tổ chức giảng dạy, đánh giá các học phần theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp khi đáp ứng quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo; việc tổ chức đào tạo trực tuyến không thay thế yêu cầu học tập toàn thời gian và tham gia hoạt động học thuật trực tiếp của nghiên cứu sinh; quy định chi tiết thông tin tổ chức đào tạo bao gồm thời gian, địa điểm, phương thức tổ chức đào tạo, bảo vệ đề cương nghiên cứu, nghiên cứu khoa học, các hoạt động liên quan đến trợ giảng, seminar khoa học của nghiên cứu sinh

- Cơ sở đào tạo tổ chức, quản lý và tạo điều kiện để nghiên cứu sinh: a) Tham gia hoạt động học thuật, nghiên cứu, trợ giảng và các hoạt động chuyên môn phù hợp với chương trình đào tạo và định hướng nghiên cứu; b) Tham gia trao đổi học thuật, học tập, nghiên cứu tại cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ; c) Hỗ trợ, tạo điều kiện để nghiên cứu sinh trao đổi học tập, nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học ở nước ngoài; d) Tiếp cận các nguồn học bổng, hỗ trợ nghiên cứu khoa học và các điều kiện bảo đảm học tập, nghiên cứu phù hợp với khả năng của cơ sở đào tạo. (Điều 18).

7. Luận án tiến sỹ

-  Cơ sở đào tạo quy định cụ thể cấu trúc, hình thức và yêu cầu học thuật của luận án tiến sĩ phù hợp với yêu cầu của chuẩn chương trình đào tạo của ngành, lĩnh vực đào tạo.

- Quy chế quy định nghiên cứu sinh được đánh giá luận án ở đơn vị chuyên môn khi đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Hoàn thành chương trình đào tạo, các yêu cầu trước khi đánh giá luận án theo quy định của chương trình đào tạo và cơ sở đào tạo;

+ Bản thảo luận án được người hướng dẫn đồng ý đề nghị được đánh giá ở đơn vị chuyên môn;

+ Đáp ứng yêu cầu về công bố khoa học, kết quả nghiên cứu hoặc sản phẩm khoa học, công nghệ, nghệ thuật, thể thao theo quy định của chương trình đào tạo do cơ sở đào tạo ban hành nhưng không thấp hơn quy định tại chuẩn chương trình đào tạo tương ứng;

+ Cam kết về liêm chính học thuật, liêm chính khoa học về công bố khoa học, kết quả nghiên cứu hoặc sản phẩm khoa học, công nghệ, nghệ thuật, thể thao sử dụng trong luận án tiến sĩ.

- Công bố khoa học, kết quả nghiên cứu hoặc sản phẩm quy định phải có liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của luận án và được công bố, xuất bản hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chấp nhận trước thời điểm tổ chức đánh giá luận án tại cơ sở đào tạo, gồm một (01) trong các trường hợp sau:

+ Nghiên cứu sinh là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ của một (01) hoặc một số công bố khoa học thuộc một trong các loại sau đây: bài báo khoa học, báo cáo hội nghị khoa học được công bố trong các ấn phẩm thuộc danh mục WoS hoặc Scopus; chương sách tham khảo do nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành; bài báo đăng trên tạp chí khoa học trong nước trong danh mục tạp chí khoa học quốc gia loại I tiêu chuẩn khoa học Việt Nam của Bộ Khoa học và Công nghệ công bố hằng năm;

+ Nghiên cứu sinh là tác giả hoặc đồng tác giả kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ đã được cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc giải pháp hữu ích trong nước hoặc quốc tế;

+ Đối với lĩnh vực nghệ thuật và thể thao, nghiên cứu sinh là tác giả hoặc đồng tác giả của các tác phẩm, công trình hoặc thành tích chuyên môn đã được công bố, biểu diễn, thi đấu hoặc đạt giải tại cuộc thi, liên hoan, giải thi đấu quốc gia hoặc quốc tế do cơ quan có thẩm quyền tổ chức hoặc công nhận.

+ Số lượng cụ thể công bố khoa học, kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, tác phẩm, công trình hoặc thành tích chuyên môn được quy định tại chuẩn chương trình đào tạo theo ngành, nhóm ngành, lĩnh vực tương ứng.

8. Phản biện độc lập

Quy chế quy định chặt chẽ hơn về quy trình phản biện độc lập, bổ sung quy định nghiên cứu sinh được miễn phản biện độc lập (Điều 22, Quy chế).

- Luận án của nghiên cứu sinh được gửi lấy ý kiến của 03 phản biện độc lập, trong đó có ít nhất 02 nhà khoa học hoặc chuyên gia trong nước hoặc nước ngoài không thuộc cơ sở đào tạo

- Luận án được xác định đạt yêu cầu khi có ít nhất 02 ý kiến đồng ý của người phản biện độc lập; Trường hợp có một (01) ý kiến không đồng ý, cơ sở đào tạo gửi luận án để lấy thêm ý kiến của một (01) người phản biện độc lập khác làm căn cứ xem xét, quyết định; Trường hợp có từ 02 ý kiến phản biện độc lập không đồng ý về chất lượng chuyên môn của luận án, luận án phải thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ hai. Không thực hiện phản biện độc lập quá hai lần đối với cùng một luận án.

- Cơ sở đào tạo quyết định và chịu trách nhiệm đối với trường hợp nghiên cứu sinh có kết quả công bố khoa học liên quan đến nội dung luận án vượt chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo được miễn thực hiện quy trình phản biện độc lập.

- Việc miễn phản biện độc lập phải được Hội đồng khoa học và đào tạo hoặc hội đồng chuyên môn có thẩm quyền của cơ sở đào tạo xem xét, quyết định trên cơ sở các tiêu chí quy định; căn cứ miễn phản biện độc lập phải được công khai trong hồ sơ đào tạo và cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm giải trình và chịu sự kiểm tra, thanh tra, hậu kiểm theo quy định của pháp luật.

Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 01/01/2027. Xem chi tiết văn bản tại: https://luatvietnam.vn/giao-duc/thong-tu-53-2026-tt-bgddt-quy-che-tuyen-sinh-va-dao-tao-sau-dai-hoc-moi-nhat-440236-d1.html

Ban Thanh tra Học viện tổng hợp, biên soạn